le hai an

PGS.TS. Lê Hải An

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký quyết định điều động, bổ nhiệm 3 Thứ trưởng.

Tại Quyết định số 1475/QĐ-TTg, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm có thời hạn ông Lê Hải An, Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ-Địa chất, giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tại Quyết định số 1476/QĐ-TTg, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Trường Sơn, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Y Tế.

Cùng với đó, tại Quyết định số 1478/QĐ-TTg, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm có thời hạn ông Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

(Trích nguồn: https://giaoducthoidai.vn/thoi-su/thu-tuong-bo-nhiem-ong-le-hai-an-giu-chuc-thu-truong-bo-giao-duc-va-dao-tao-3961624-v.html)

(Bảng xếp hạng của ASEAN Citation Index (ACI) năm 2017)

Trong đợt xét duyệt tháng 12/2017, Việt Nam có 03 tạp chí được cơ sở dữ liệu khoa học Trung tâm Trích dẫn ASEAN (ASEAN Citation Index) chấp nhận với điểm số đạt chuẩn, trong đó có 2 tạp chí (Tạp chí Khoa học và Công nghệ và Tạp chí Khoa học trái đất) của Viện Hàn lâm KHCNVN.

Trung tâm Trích dẫn ASEAN (Asean Citation Index-ACI) là một cơ sở dữ liệu chung cho toàn bộ khu vực ASEAN, làm cầu nối giữa các Trung tâm Trích dẫn quốc gia (National Citation Index – NCI) của các nước thành viên với các cơ sở dữ liệu quốc tế như ISI, SCI hay Scopus. ACI có chức năng lưu trữ, tìm kiếm bài báo và trích dẫn, giúp phân loại và đánh giá chất lượng tạp chí khoa học của các nước ASEAN tương tự như Trung tâm Trích dẫn Thái lan (TCI) hay các Trung tâm Trích dẫn quốc gia (NCI) khác, nhưng để có mặt trong cơ sở dữ liệu này, các tạp chí khoa học cần phải đạt những tiêu chuẩn cao hơn về hình thức và nội dung, tiệm cận với tiêu chuẩn của Scopus.

Trung tâm Trích dẫn ACI được thành lập và có ban điều hành từ năm 2013, chính thức xét duyệt tạp chí từ năm 2014, do Quỹ Nghiên cứu khoa học Thái Lan tài trợ đến hết năm 2016; từ năm 2017 kinh phí sẽ do các nước thành viên đóng góp. Chủ tịch ACI là Giáo sư Narongrit Sombatsompop; ban điều hành gồm thành viên các nước ASEAN, mỗi nước được cử hai người do Bộ Giáo dục của nước đó giới thiệu. Mỗi năm ACI mở một đợt xét duyệt với hạn chót là ngày 15/11. Những tạp chí có trong danh mục Scopus hay ISI đương nhiên được chấp nhận, những tạp chí khác sẽ được xét duyệt theo các tiêu chí của ACI.

Khi thành lập ACI đặt ra mục tiêu sớm có được 500 tạp chí khoa học đạt chuẩn, để trở thành một cơ sở dữ liệu đủ lớn để liên kết với Scopus. Xuất phát với số lượng 41 tạp chí trong năm 2014 chỉ do Thái Lan xuất bản, đến hết đợt xét năm 2016, ACI đã đạt được 253 tạp chí đại diện của 6 quốc gia thành viên. Tính đến cuối tháng 12/2017, ACI có được 408 tạp chí khoa học đạt chuẩn. Trong đó, Thái lan có 161 tạp chí đạt chuẩn, Indonesia có 101, Malaysia có 100, Philipines có 28, Singapore có 8, Việt Nam có 6, Brunei có 1, Myanmar có 1 và Campuchia có 1. (http://www.asean-cites.org/index.php?r=contents%2Findex&id=9)

Trong đợt xét duyệt tháng 12/2017, Việt Nam có 3 tạp chí được chấp nhận đạt chuẩn ACI, trong đó 2 tạp chí của Viện HLKHCNVN là: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Vietnam Journal of Science and Technology) và Tạp chí Khoa học trái đất (Vietnam Journal of Earth Sciences) đạt điểm loại cao. Bốn tạp chí đạt chuẩn ACI của các đơn vị khác ngoài VAST gồm: 2 tạp chí đạt đợt xét năm 2015 là Journal of Economic Development của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Journal of Economics and Development của Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 1 tạp chí đạt đợt 2016 là Biomedical Research and Therapy của Trường ĐHKHTN, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, và Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt (Dalat University Journal of Science) đạt năm nay cùng với 2 tạp chí của Viện HLKHCNVN. Với số lượng 6 tạp chí được ACI chấp nhận, Việt Nam chỉ hơn Brunei (1), Campuchia (1), Myanmar (1) và Lào (0).

Earth Sciences     Vietnam Journal of Science and Technology

Theo thông tin từ Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN), cho đến ngày 19 tháng 7 năm 2017 đã có 387 tạp chí khoa học Việt Nam được đưa vào danh mục tạp chí tính điểm của Hội đồng. Trong số đó mới chỉ có 3 tạp chí được vào danh sách Scopus (đó là: Vietnam Journal of Mathematics của Hội Toán học Việt Nam và Viện HLKHCNVN; Acta Mathematica Vietnamica của Viện HLKHCNVN; và Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology (ANSN) của Viện HLKHCNVN). Như vậy, trong số 387 tạp chí nói trên, Việt Nam mới chỉ có 3 (xấp xỉ 0,78%) tạp chí nằm trong danh sách Scopus, chưa có tạp chí nào nằm trong danh sách ISI và cũng chỉ có 32 tạp chí bằng tiếng Anh hoặc song ngữ Việt – Anh (xấp xỉ 8,3%). Trong khi đó, theo thống kê của ACI, tính đến hết năm 2016, số tạp chí khoa học thuộc ISI/Scopus của các nước Châu Á như sau: Trung Quốc 538, Nhật Bản 459, Singapore 101, Malaysia 69, Thailand 23, Philippines 21, Indonesia 12, Việt Nam 3. Toàn bộ khu vực ASEAN có 225 tạp chí thuộc ISI/Scopus, thì Việt Nam chỉ chiếm 3, 408 tạp chí ACI thì Việt Nam chỉ có 6.

Mấy con số so sánh sơ bộ trên cho thấy mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng nhưng chất lượng của các tạp chí khoa học hiện nay của Việt Nam còn khá thấp so với mặt bằng khu vực ASEAN và thế giới. Do đó, điều khó khăn và lâu dài nhất vẫn là việc nghiêm túc phấn đấu để nâng cao chất lượng khoa học của các tạp chí khoa học Việt Nam, để sớm có thêm những tạp chí được xếp hạng trong khu vực như ACI và trên thế giới như ISI và Scopus.

Viện Hàn lâm KHCNVN hiện có 12 tạp chí khoa học, trong đó có 3 tạp chí đã đạt chuẩn Scopus đang phấn đấu để có thể đạt thêm chuẩn ISI. 6 trên 9 tạp chí còn lại đang đang thực hiện dự án nâng cao chất lượng để có thể đạt chuẩn Scopus.

Theo GS.TSKH. Nguyễn Xuân Phúc – Tổng biên tập Tạp chí Khoa học và Công nghệ cho biết, từ 5 năm lại đây các cơ quan quản lý khoa học Việt Nam đang cố gắng hỗ trợ để sớm có các tạp chí khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc các thứ tiếng khác với chất lượng khoa học ngày càng cao để hội nhập quốc tế và sớm có mặt trong danh mục tạp chí của ISI hoặc Scopus. Cùng với Viện HLKHCNVN, các trường đại học thuộc Bộ GD-ĐT và 2 Đại học Quốc gia và Viện HLKHXHVN cũng đang phấn đấu không ngừng để đạt được điều đó. Tuy nhiên đó là cả một chặng đường dài và vất vả. Nhìn vào con số thống kê số tạp chí khoa học Việt Nam được đưa vào danh mục ISI/Scopus hay ngay cả ACI so với các nước trong khu vực thì Việt Nam có tỷ lệ rất thấp.

GS. TSKH. Nguyễn Xuân Phúc cho biết, từ 2 năm nay Văn phòng HĐCDGSNN đang xúc tiến các hoạt động định hướng cho việc nâng cao chất lượng tạp chí khoa học Việt Nam theo chuẩn tạp chí quốc tế, như các công văn số 37/HĐCDGSNN ngày 4/4/2016 và số 30/HĐCDGSNN ngày 26/5/2017 về việc nâng cao chất lượng các tạp chí được tính điểm; hay công văn số 403/HĐCDGSNN ngày 31/10/2017 mới đây về chuẩn bị xây dựng bộ tiêu chí trích dẫn VCI (Vietnam Citation Index) – thành viên của ACI. Theo định hướng này, từ năm 2017 Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước cũng đã xếp các bài khoa học đăng trên các tạp chí đạt chuẩn ACI mức tính từ 0-1,25 điểm, tức là trên điểm của các tạp chí quốc gia khác và ngang với các tạp chí quốc tế chưa đủ tiêu chuẩn Scopus/ISI.

“Có nhiều con đường để có thể đi đến thành công và việc hai tạp chí Vietnam Journal of Science and Technology (Tạp chí Khoa học và Công nghệ) và Vietnam Journal of Earth Sciences (Tạp chí Khoa học trái đất) của VAST được lọt vào danh mục ACI có thể coi là thành công bước đầu trong việc đưa các tạp chí của VAST vươn ra khu vực các nước ASEAN và là nền tảng để vươn ra thế giới với mục tiêu đạt chuẩn Scopus”, GS. TS. Nguyễn Xuân Phúc cho biết thêm.

VP. HĐCDGSNN sưu tầm theo tin: Minh Tâm

(Download)

 

GS.TSKH. Pham Ngoc Dang

Năm 1978 GS Phạm Ngọc Đăng đã bảo vệ thành công luận án TSKH (tiến sỹ bậc 2) tại trường Đại học Quốc gia Xây dựng Moskva, Liên Bang Nga, do VS.GS.TSKH Bogoslopski V.N là cố vấn khoa học, với tên Luận án là “ Nghiên cứu chế độ nhiệt ẩm của công trình kiến trúc trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Việt Nam”, có thể đây là luận án TSKH đầu tiên thuộc lĩnh vực này của các nước ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm trên thế giới.

Những kết quả khoa học chủ yếu của luận án của ông đã được công bố trong 5 bài báo khoa học tên các tạp chí chuyên môn của Liên Xô (1973-1978), trong sách “Cơ sở khí hậu học của thiết kế kiến trúc”, nhà Xuất bản KH&KT, Hà Nội-1981 và sách “Vật lý Xây dựng -Tập 1- Nhiệt và Khí hậu kiến trúc”; Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội-1981, tái bản năm 2002.

Theo thông tin mà giới chuyên môn nước ta thu thập được cho biết đã có 3 công thức sáng tạo khoa học của ông, đã được công bố trong Luận án TSKH và trong các tài liệu nêu trên, đã dược đưa vào Tiêu chuẩn Quốc gia ngành Xây dựng & Kiến trúc ở Mỹ, Liên Bang Nga và ở Việt Nam, đó là:

1. Về công thức tính “Nhiệt độ thao tác của phòng:

Để đánh giá trạng thái nhiệt của vi khí hậu công trình hiện có (nóng hay lạnh, tiện nghi hay không tiện nghi), trước năm 1978, trong các Tiêu chuẩn Xây dựng & Kiến trúc của Liên Xô, của Mỹ, cũng như của tất cả các nước trên thế giới, đều quy định công thức tính “Nhiệt độ thao tác” của phòng (mà các nước phương Tây gọi là “Operative Temperature”- to) dơn giản như sau:

to = (ta + tr)/2; (1)

Trong đó: - ta là nhiệt độ không khí trong phòng, được đo bằng nhiệt kế thông thưởng hoặc bằng nhiệt kế điện tử; - tr là nhiệt độ bức xạ trung bình trong phòng, được đo bằng nhiệt kế quả cầu đen treo ở giữa phòng.

Công thức (1) trên chỉ phù hợp với trường hợp tốc độ không khí trong phòng xấp xỉ = 0 (phòng sưởi ấm mùa đông hoặc là phòng điều hòa không khí (ĐHKK) mùa hè).

Trong các tài liệu nêu trên GS Đăng đã trình bày kết quả nghiên cứu giải hệ phương trình trao đổi nhiệt giữa cơ thể con người và môi trường xung quanh bằng các hình thức đối lưu, bức xạ nhiệt và bốc hơi mồ hôi và đã đề xuất công thức tổng quát tính Operative Temperature - to như sau:

tf = kv.tk + (1 – kv).tr; (2)

Trong đó:

- tf là nhiệt độ thao tác (các nước phương Tây thường ký hiệu là - to);

- tk là nhiệt độ không khí trong phòng (các nước phương Tây thường ký hiệu là – ta);

- tr là nhiệt độ bức xạ trung bình của các bề mặt trong phòng;

- kv là hệ số kể đến ảnh hưởng của tốc độ không khí trong phòng (vk, m/s) đối với nhiệt độ thao tác của phòng. Trong các tài liệu nêu trên GS Đăng đã cho công thức tính kv cụ thể, là kết quả giải hệ 3 phương trình trao đổi nhiệt nêu trên, nó phụ thuộc vào tốc độ gió vk và độ ẩm ᵠ.

Xét công thức tính hệ số kv thấy rằng khi tốc độ gió trong phòng rất nhỏ (vk < 0,1 m/s), như là ở trong các phòng đóng kín cửa mùa đông hay ĐHKK mùa hè thì kv = 0.5, có nghĩa là tf = to = ½. (ta + tr), đó là công thức kinh điển (1) cho ở trên. Khi vk càng lớn (phòng có thông gió tốt) thì hệ số kv càng lớn và nhiệt độ thao tác của phòng (hay cảm giác nhiệt của người ở trong phòng) càng phụ thuộc vào nhiệt độ không khí trong phòng và ít phụ thuộc vào nhiệt độ bức xạ của các bề mặt kết cấu bao che của phòng.

Trong thời gian gần đây TS Nguyễn Văn Muôn, nguyên là Chủ nhiệm Bộ môn Vật lý Kiến trúc Đại học Kiến trúc Hà Nội, đã phát hiện thấy trong Tiêu chuẩn mới của Hoa kỳ: “ANSI/ASHRAE Standard 55-2013: Thermal Enviromental Conditions for Human Occupancy”, đã được ASHRAE thẩm định và thông qua ngày 3 tháng 4 năm 2017, tại trang 3, Mục FOREWORD, Addendum to Standard 55-2013, đã được bổ sung thêm công thức tính mới đối với Nhiệt độ thao tác của phòng (Operative Temperature) hoàn toàn giống hệt công thức (2) của GS Đăng nêu trên, cụ thể là: to = A.ta + (1 – A).tr. So sánh công thức này với công thưc (2) thấy rằng chúng chỉ khác nhau về ký hiệu hệ số ảnh hưởng của tốc độ gió, GS Đăng ký hiệu là “kv”, còn ASHRAE Standard ký hiệu là “A”.

Tương tự, cũng đã phát hiện trong Tiêu chuẩn “ГОСТ 30494-2011, Nhà ở và nhà công cộng- Tham số vi khí hậu trong nhà”, của Liên Bang Nga đã bổ sung công thức mới tính Nhiệt độ “Operation Temperature” tsu như sau: Khi v < 0,2 m/s thì tsu = (tp + tr) / 2, giống công thức (1) ở trên; Khi v= 0,2 - 0,6m/s thì tsu = 0,6tp + 0,4tr. Trong đó: tp - là ta, nhiệt độ không khí, oC; tr - nhiệt độ bức xạ trung bình, oC, - tsu – là to, nhiệt độ thao tác oC. Như vậy Tiêu chuẩn ГОСТ 30494-2011 cũng sử dụng công thức (2) với điều kiện cụ thể: khi v < 0,2 m/s lấy kv = 0,5; khi v= 0,2 - 0,6m/s lấy kv = 0,6.

2. Về công thức tính tổng lượng nhiệt bức xạ mặt trời (BXMT) chiếu vào nhà qua cửa sổ có kết cấu che nắng (KCCN)

Trước năm 1978 (năm mà GS Đăng đề xuất công thức mới), trong Tiêu chuẩn Quốc gia ở tất cả các nước trên thế giới đều sử dụng công thức đơn giản để tính tổng lượng BXMT chiếu qua cửa sổ vào nhà như sau:

Qo = Fcs.C..(Sđ + Dđ), W; (1.1)

Trong đó: Fcs: diện tích mặt kính cửa sổ (m2); C – hệ số che lấp của khung và đố cửa sổ; τk – hệ số xuyên BXMT của kính cửa sổ; Sđ và Dđ: là cường độ trực xạ và tán xạ mặt trời chiếu tới mặt cửa sổ (W/m2). Tức là tính BXMT chiếu qua cửa sổ vào nhà không xét đến tác dụng của KCCN, đối với cửa sổ không có và có KCCN là như nhau.

Năm 1978 GS Đăng đã nghiên cứu thiết lập công thức tính tổng lượng nhiệt BXMT chiếu qua cửa sổ có KCCN vào nhà, gồm 2 thành phần tách riêng: Trực xạ và tán xạ có xét đến tác dụng che trực xạ và che tán xạ bầu trời của KCCN theo công thức sau:

Qo = Fcs.C..(Kcn.Sđ + Kbt.Dđ), W, (1.2)

Trong đó: Kcn, - hệ số chiếu nắng, là hệ số xét đến tác dụng của KCCN che trực xạ (tia nắng) chiếu vào bề mặt cửa sổ, nó phụ thuộc vào góc cao và góc phương vị của Mặt trời biến thiên theo từng giờ một, phụ thuộc vào hướng nhà, phụ thuộc vào hình thức và kích thước của KCCN (Kcn ≤ 1).

Kbt - hệ số chiếu tán xạ bầu trời của cửa sổ có KCCN, nó là hệ số xét đến tác dụng của KCCN che khuất bầu trời (che tán xạ), nó chỉ phụ thuộc vào hình thức và kích thước của KCCN (Kbt ≤ 1).

Đồng thời, GS. Đăng đã thiết lập công thức tính các hệ số chiếu nắng (Kcn) và các hệ số chiếu tán xạ bầu trời (Kbt) đối với KCCN là tấm nằm ngang dài liên tục, tấm thẳng đứng dài liên tục và che nắng hình hộp (vừa đứng vừa ngang). Năm 2017, trong luận án Tiến sỹ Kiến trúc của mình (tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) Phạm Thị Hải Hà (con gái GS Đăng) đã đề xuất hệ thống các công thức tính các hệ số chiếu nắng (Kcn) và các hệ số chiếu tán xạ bầu trời (Kbt) đối với KCCN là tấm nằm ngang dài hữu hạn.

Ở Liên Bang Nga, cũng như ở nhiều nước trên thế giới, trước những năm thập niên 80 của thế kỷ 20, trong các tài liệu Tiêu chuẩn về xây dựng (СНиП), khi tính BXMT chiếu qua cửa sổ kính vào nhà hầu như không xét đến che chắn bức xạ của KCCN.

Trong thời gian gần đây TS. Nguyễn Văn Muôn đã phát hiện trong Tiêu chuẩn Промстройпроект пособие 2.91 к СНиП 2.04.05-91 "Расчет поступления теплоты солнечной радиации в помещения".Москва 1993 г, của Liên Bang Nga, năm 1993, cũng đã đưa vào công thức tính tổng lượng BXMT chiếu qua cửa sổ có KCCN vào nhà, cũng phân thành tính riêng bức xạ trực tiếp và tán xạ của bầu trời giống như như công thức (1.2) nêu trên. Phương pháp tính trực xạ xuyên qua cửa sổ và hệ số chiếu nắng của KCCN (được ký hiệu là K1) hoàn toàn giống như phương pháp xác định và công thức tính Kcn của Phạm Ngọc Đăng, hệ số chiếu nắng của KCCN hỗn hợp cũng = K1.ng x K1.đ, giống như công thức của GS Đăng, còn cách tính tán xạ của bầu trời chiếu vào nhà về cơ bản cũng tương tự như phương pháp của Phạm Ngọc Đăng, nhưng hệ số chiếu tán xạ của bầu trời (ký hiệu là K2) thì phụ thuộc một số góc che của KCCN, còn công thức tính hệ số chiếu tán xạ của bầu trời (Kbt) của Phạm Ngọc Đăng thì phụ thuộc vào hình thức và kích thước đua ra tùy ý của KCCN.

Đồng thời, các chuyên gia ở nước ta cũng mới phát hiện trong Sổ tay Thiết kế của Mỹ “ASHRAE Handbook - Fundamentals (I-S), Edition 2005. Chapter 31. Fenestration” cũng mới bổ sung mô hình tính tổng lượng nhiệt BXMT chiếu qua cửa sổ có KCCN vào nhà, mô hình tính toán này cũng tương tự như phương pháp của Phạm Ngọc Đăng, cách tính trực xạ chiếu qua cửa sổ vào nhà và phương pháp xác định hệ số chiếu nắng của KCCN hoàn toàn giống phương pháp của Phạm Ngọc Đăng, còn phương pháp tính tán xạ bầu trời chiếu vào nhà của Mỹ thì vẫn không xét đến tác dụng che tán xạ bầu trời của KCCN (coi như cửa sổ không có KCCN).

3. Về điều kiện tiện nghi nhiệt tổng thể và điều kiện tiện nghi nhiệt cục bộ của phòng

Trong Tiêu chuẩn Xây dựng Việt Nam “TCXDVN 306:2004. Nhà ở và công trình công cộng- Các thông số vi khí hậu trong phòng” đã lựa chọn kết quả nghiên cứu thực nghiệm về cảm giác tiện nghi nhiệt đối với 1100 người Việt Nam của GS Đăng làm số liệu cơ sở để xây dựng các bảng tiêu chuẩn vi khí hậu cho nhà ở và nhà công cộng trong mùa đông và trong mùa hè của Việt Nam, đồng thời cũng chấp nhận công thức xác định “Điều kiện tiện nghi nhiệt cục bộ” của Phạm Ngọc Đăng đưa vào Tiêu chuẩn này.

Cũng cần phải nói thêm rằng chỉ có trong TCXDVN 306:2004 nêu trên mới có ghi rõ là Tiêu chuẩn đã sử dụng các tài liệu và công thức của Phạm Ngọc Đăng. Còn các công thức tính tổng lượng nhiệt bức xạ mặt trời chiếu qua cửa sổ có KCCN vào nhà cho trong СНиП 2.04.05-91 của Liên Bang Nga, và trong tài liệu “ASHRAE Handbook - Fundamentals (I-S), Edition 2005. Chapter 31. Fenestration” của Mỹ, cũng như công thức tính Nhiệt độ thao tác của phòng cho trong Tiêu chuẩn ANSI/ASHRAE Standard 55-2013 của Hoa kỳ , và cho trong Tiêu chuẩn Tiêu chuẩn “ГОСТ 30494-2011” của Liên Bang Nga đều không ghi rõ là các công thức đó là của ai, nhưng thực tế nó rất giống công thức của Phạm Ngọc Đăng như trên đã trình bày, như vậy có thể là họ đã tham khảo tài liệu của Phạm Ngọc Đăng để biên soạn các Tiêu chuẩn này, hoặc là họ tham khảo tài liệu của người nước họ nào đó cũng nghiên cứu ra kết quả giống như kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Đăng, giả dụ có như vậy thật thì kết quả nghiên cứu của họ cũng đều công bố sau Phạm Ngọc Đăng công bố hàng chục năm, và như vậy thì không thể phủ định được sự cống hiến sáng tạo khoa học và quyền tác giả của GS Đăng.

Đây không chỉ là niềm tự hào của cá nhân, của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, mà còn là niềm tự hào chung của tất cả đội ngũ chuyên gia Môi trường-Vật lý Kiến trúc của Việt Nam.

Nguồn: Văn phòng HĐCDGSNN

Chiều 21/7, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kì 2014-2019 đã tổ chức kỳ họp thứ V để bàn về một số công việc của Hội đồng trong năm 2017 và triển khai lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2017. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ - Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước chủ trì kỳ họp.

Tại kỳ họp, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước GS. Trần Văn Nhung đã trình bày báo cáo về những công việc Hội đồng đã thực hiện từ kì họp lần thứ IV, ngày 5 tháng10 năm 2016, đến nay,trong đó đáng chú ý là việc đã tổ chức thành công Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư cho 638 nhà giáo năm 2016. Sự kiện này đã nhận được sự hoan nghênh của dư luận và có sức ảnh hưởng tích cực, cổ vũ sự học của nước nhà.

Ky hop thu V

Bộ trưởng, Chủ tịch Phùng Xuân Nhạ chủ trì Kỳ họp thứ V Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước

Cũng trong năm qua, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đã tích cực góp ý cho Quy chế đào tạo tiến sĩ, trong đó nhiều ý kiến của Hội đồng và Văn phòng Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đã được Ban soạn thảo tiếp thu và hoàn thiện. Các thành viên của Hội đồng đã tích cực, chủ động tham gia góp ý cho Dự thảo văn bản thay thế Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 20/2012/QĐ-TTg về tiêu chuẩn, thủ tục, quy trình xét, công nhận, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Ngoài ra, Hội đồng đã tiến hành rà soát, bổ sung danh mục các tạp chí được tính điểm công trình khoa học quy đổi năm 2017, đồng thời, có công văn hướng dẫn nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học của Việt Nam. Văn phòng Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước kiến nghị Chủ tịch giao Văn phòng phối hợp với các Hội đồng Chức danh giáo sư ngành, liên ngành và các cơ sở giáo dục đại học tổ chức các hội thảo về các giải pháp nâng cao chất lượng tạp chí khoa học theo hướng hội nhập quốc tế. Sớm có chủ trương, quyết định triển khai xây dựng, áp dụng Vietnam Citation Index ( VCI ) để có cơ sở khoa học đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Kết luận kỳ họp, Bộ trưởng, Chủ tịch Phùng Xuân Nhạ đánh giá cao các hoạt động của Hội đồng cũng như Văn phòng hội đồng trong năm qua, trong đó mỗi thành viên đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm đối với công việc chung. Bộ trưởng, Chủ tịch yêu cầu các giáo sư thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước tiếp tục góp ý cho Dự thảo văn bản thay thế Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg và Quyết định 20/2012?QĐ-TTg; thực hiện đúng lịch xét và đảm bảo chất lượng đợt xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2017; tiếp tục chú ý việc nâng cao chất lượng các tạp chí khoa học để số tạp chí khoa học của Việt Nam có tên trong các hệ thống ISI, Scopus, ACI nhiều hơn.

Nhấn mạnh về một số nhiệm vụ trong những năm tới, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đề nghị, trong kế hoạch triển khai của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước cần có những kế hoạch ở tầm lớn hơn, mang tính chất tư vấn cho ngành như xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành cấp chiến lược, các biện pháp để trọng dụng đội ngũ... để trên cơ sở đó Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ đưa vào các đề án và kiến nghị với Trung ương.

Nguồn: Theo Trung tâm truyền thông giáo dục

 

Sáng 10/7, tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã trao quyết định bổ nhiệm lại Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhiệm kỳ 2017-2022 cho GS.TS Nguyễn Văn Minh. Cũng tại đây, Bộ trưởng đã có những trao đổi về cơ hội, thách thức và giao nhiệm vụ cho các trường sư phạm cả nước.

Cần khai thác tốt những điểm mạnh

Chúc mừng GS.TS Nguyễn Văn Minh được bổ nhiệm lại cương vị Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm nhiệm kỳ 2017-2022, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức, đồng thời tin tưởng rằng, GS.TS Nguyễn Văn Minh sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, cùng tập thể sư phạm nhà trường xây dựng và củng cố vị trí “anh cả” trong hệ thống các trường sư phạm cả nước.

Bo truong Phung Xuan Nha trao QD bo nhiem lai HT Truong DH SPHN

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ trao quyết định bổ nhiệm lại Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhiệm kỳ 2017-2022 cho GS.TS Nguyễn Văn Minh

Bộ trưởng chia sẻ: “Ngành sư phạm đóng vai trò quan trọng, là cái nôi của ngành giáo dục, đào tạo ra những thầy giáo, cô giáo, những nhà khoa học, những nhà quản lý không chỉ trong ngành giáo dục mà còn cho nhiều lĩnh vực khác của đất nước. Qua đây, tôi muốn gửi lời cảm ơn, sự trân trọng tới các thầy, các cô qua các thời kỳ, các thế hệ của ngành sư phạm, trong đó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xứng đáng là đầu tàu, là niềm tự hào của hệ thống sư phạm cả nước”.

Nhìn nhận về những điểm mạnh của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay, Bộ trưởng cho rằng, đó là giá trị truyền thống được vun đắp qua nhiều thế hệ; là đội ngũ cán bộ giảng viên có trình độ cao hơn so với mặt bằng chung các trường đại học trong cả nước; là tinh thần hội nhập quốc tế của nhà trường và đội ngũ giảng viên; là những cựu sinh viên đang giữ những trọng trách quan trọng hay những giáo viên giỏi đang cống hiến trên khắp mọi miền tổ quốc; là thế hệ sinh viên hôm nay có đầu vào cao được lựa chọn từ những học sinh giỏi, say mê nghề nghiệp.

“Với những điểm mạnh như thế nếu biết trân trọng, biết khai thác đúng cách, đúng lúc sẽ tạo cho nhà trường một vị thế tốt, không chỉ trong hệ thống các trường sư phạm mà còn trong toàn hệ thống các trường đại học của các nước” - Bộ trưởng nhấn mạnh.

Bên cạnh những điểm mạnh, hệ thống các trường sư phạm hiện nay không tránh khỏi những điểm yếu mà theo Bộ trưởng bao gồm: chất lượng quản trị nhà trường hạn chế; ngành nghề đào tạo chậm đổi mới; công tác nghiên cứu khoa học được quan tâm nhưng mới tập trung ở khoa học cơ bản mà chưa tập trung cho khoa học sư phạm, khoa học giáo dục; quá trình kết nối với các địa phương, các cơ sở giáo dục còn lỏng lẻo, nặng về hình thức.

Bộ trưởng đã chỉ ra những cơ hội đối với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng và hệ thống các trường sư phạm nói chung trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo được coi là cơ hội lớn với các trường sư phạm trong đào tạo giáo viên các cấp đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Việc ngành giáo dục đang tiến hành rà soát, quy hoạch lại hệ thống các trường sư phạm trong cả nước theo hướng lấy một số trường làm trung tâm, các trường còn lại làm vệ tinh để thống nhất trong phương pháp, nội dung đào tạo cũng là cơ hội lớn để các trường thể hiện được năng lực, nâng cao chất lượng đào tạo.

Ngoài ra, quá trình triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận từ nội dung sang tiếp cận năng lực người học cũng đang tạo ra cho các trường sư phạm cơ hội rất lớn để đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo. Với lần đổi mới này sẽ có hàng triệu giáo viên cần được đào tạo lại, nhiệm vụ này được giao chính cho các trường sư phạm.

Tuy nhiên bên cạnh cơ hội, cũng không ít những thách thức đặt ra cho các trường sư phạm, theo Bộ trưởng, các trường sẽ phải giải được bài toán cấn đối giữa truyền thống và đổi mới; bài toán một bên là chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học đòi hỏi rất cao nhưng chi phí tài chính lại rất thấp.

Tăng tính thực hành, thực tế trong chương trình đào tạo

Trước cơ hội và thách thức, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đề nghị Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần rà soát chiến lược phát triển của nhà trường. Trong đó xác định rõ sứ mạng của trường không phải chỉ là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học giáo dục hàng đầu mà còn có trách nhiệm đóng vai trò đầu tàu trong hệ thống các trường sư phạm cả nước, có sứ mạng thực hiện tích cực, nòng cốt và thành công Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo.

Bo truong PX Nha phat bieu tai Truong DHSPHN

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chỉ ra những cơ hội và thách thức của các trường sư phạm hiện nay

Từ đó, xác định tầm nhìn của trường là phát triển thành trường đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực về khoa học sư phạm, khoa học giáo dục trước hết xứng tầm quốc gia sau đó là vươn ra khu vực và quốc tế. Quan trọng hơn là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần tạo lập vị thế của một trường tâm điểm, sáng tạo, truyền dẫn kết nối trong hệ thống các trường sư phạm cả nước. Trong chiến lược phát triển nhà trường cần đưa ra các giải pháp cụ thể, không chung chung, cần chia ra từng giai đoạn cụ thể, 5 năm, 10 năm, có lộ trình bước đi chắc chắn.

“Thời gian tới các trường sư phạm phải rà soát chương trình đào tạo, bám thật sát vào chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, căn chỉnh lại, tăng tính thực hành, thực tế, giảm tính hành lâm, không thiết thực. Đầu tư sâu thêm vào những ngành mới, những môn học mới xuất hiện ở bậc học phổ thông để đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Có như thế chất lượng đào tạo cũng như vị thế của hệ thống các trường sư phạm mới được nâng lên đúng tầm” - Bộ trưởng nêu rõ.

Ngoài ra, các trường cũng cần tập trung cho công tác nghiên cứu khoa học làm nền tảng để nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó cần hình thành nên những nhóm nghiên cứu. Đồng thời đổi mới áp dụng quản trị đại học, mạnh dạn cơ cấu lại, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, người theo việc, chuẩn vị trí chức danh, tránh trường hợp một nhà khoa học giỏi chưa chắc đã là một nhà quản lý giỏi.

“Tôi cho rằng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng như các trường sư phạm trong cả nước cần quan tâm tới đội ngũ cán bộ giảng viên, có chế độ đãi ngộ cho các nhà khoa học bằng các hình thức phù hợp. Lưu ý tránh trường hợp trường có thể có nhiều thầy cô giỏi nhưng nhà trường lại không mạnh bởi có một bộ phận thầy cô không thực sự tâm huyết, thực sự gắn bó, đặc biệt là khi quá trình liên kết đào tạo đang diễn ra mạnh mẽ” - Bộ trưởng nhấn mạnh.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các trường sư phạm tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng, lấy đó làm cơ sở tiến hành những bước củng cố, đầu tư tiếp theo. Bộ trưởng yêu cầu việc rà soát, đánh giá thực trạng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phải hoàn thành trước ngày 30/9/2017.

Theo Trung tâm Truyền thông giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

(Download here)

Bản quyền thuôc về Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước
Địa chỉ: Tầng 7, Thư viện Tạ Quang Bửu, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Số 1, Đại Cồ Việt, Phường Bách khoa, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại:  (+84.4) 38.697.943 | Fax: (+84.4) 38.680.806  |  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Phụ trách kỹ thuật website: NAVIS Centre.
Thống kê truy cập

Truy cập hôm nay 78

Tổng số truy cập 970826